Thật vì sanh tử
Phát Bồ Đề tâm
Dùng tín nguyện sâu
Trì danh hiệu Phật

Bạn Hiểu Về Phật Giáo Đúng Chưa?

 



PHẬT GIÁO LÀ GÌ?

Phật giáo là một nền giáo dục, không phải là một tôn giáo. Đó là một sự thật rõ ràng. Hiện tại, trong nhà Phật thường xưng hô cũng đủ cho chúng ta thấy được điều đó. Ví như chúng ta thường gọi Phật là Bổn sư. Bổn sư có nguồn gốc từ hai chữ Lão Sư, là căn bản của Lão Sư. Theo thói quen, chúng ta thường gọi người xuất gia lâu năm trong Phật giáo là Hòa Thượng. Hòa Thượng là tiếng Ấn Độ, có nghĩa là thân giáo sư, vì ông ta là người chỉ đường cho chúng ta nên chúng ta gọi là Hòa Thượng. Vì thế, các vị Hòa Thượng đối với chúng ta có quan hệ học tập rất mật thiết. Hòa Thượng không nhất thiết phải là người xuất gia, người tại gia dạy đạo cho chúng ta cũng được gọi là Hòa thượng. Do đó có thể biết, Hòa Thượng là tên tôn xưng của học sinh đối với thầy giáo. Như trong trường học gọi là giáo thọ sư, giả như cư sĩ không trực tiếp dạy tôi, tôi sẽ gọi Ngài là Pháp Sư chứ không gọi là Hòa Thượng. Vì thế, Hòa Thượng là một tên gọi thông thường để gọi những người dạy học trực tiếp cho chúng ta, không kể người đó trẻ, già, nam, nữ, tại gia hay xuất gia. Pháp Sư cũng là tên gọi thông thường. Nếu gọi là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, nhất định người đó phải là người là xuất gia. Đó là những kiến thức thông thường phải biết.

THẾ NÀO LÀ QUY Y?

Quy có nghĩa là gì? Quy - nghĩa là hồi đầu [quay lại]. Y - nghĩa là nương tựa. Do đâu mà hồi đầu? Vì quá khứ chúng ta mê hoặc, thấy biết sai lầm, thân tâm bị ô trược trầm trọng do si mê. Vì thế, chúng ta quy y chính là quay đầu lại với cái thấy biết sai lầm của mình mà nương tựa về chánh tri chánh kiến, quay đầu với tất cả tâm ô trược mà về nương tựa với tâm thanh tịnh. Vì thế, điều kiện cơ bản của người học Phật, nhất định là chúng ta phải quay đầu với si mê tà kiến mà nương tựa trở về Chánh-Giác-Tịnh. Mê nhiễm ở tại mình. Chánh-Giác-Tịnh cũng ở tại mình. Cho nên người chân chính quy y là quy y với tự tánh Tam bảo [của mình], đó là Chánh-Giác-Tịnh. Bình thường có một số người có những ngộ nhận sai lầm về quy y. Họ cho rằng quy y là quy y với một vị thầy nào đó, hay càng quy y với nhiều vị thầy càng tốt, đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Quy y không phải là nương tựa một vị thầy nào, cũng không phải nhiều vị thầy càng tốt, mà chính là đem cương lĩnh và nguyên tắc tu học Phật pháp mà trao truyền cho chúng ta, đó gọi là quy y. Vì vậy, quy y là quy y tự tánh Tam Bảo [của chính mình], không phải là quy y một người nào từ bên ngoài. Thậm chí đối với đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không có tương quan, bạn nói tôi quy y là quy y với đức Phật là sai lầm lớn. Đức Phật không nói chúng ta quy y là phải quy với Phật, mà đức Phật dạy chúng ta quy y là quy y với tự tánh giác của mình. Giác là Phật bảo, Phật có nghĩa là giác ngộ, quy y Phật là quy y với bậc giác ngộ, nói theo ngôn ngữ hiện đại phổ thông để dễ hiểu, quy y là trở về nương tựa lý tánh, không phải hành động theo cảm tình cá nhân. Lý tánh là giác, cảm tình cá nhân là mê. Chúng ta quy y Phật, là Phật dạy chúng ta trong cuộc sống đời thường, lúc tiếp nhân đãi vật, chúng ta nên y theo lý tánh, không nên hành động theo cảm tình cá nhân, đó gọi là chân chính quy y. [Tam là Ba. Bảo - là Bảo Tàng. Tam Bảo là ba cái Bảo Tàng mà chúng ta ai cũng vốn sẵn có trong tâm mình, đó là Chánh-Giác-Tịnh. Chánh - là không Tà. Giác - là giác ngộ, không sống trong mê muội ngu si. Tịnh - là thanh tịnh, không bị ô nhiễm]


KHÔNG NÊN HỐI LỘ PHẬT, BỒ TÁT!

Phật pháp là đạo sư, không phải là thần, cho nên Phật giáo là một nền giáo dục, không phải là một tôn giáo. Cách đây mấy nghìn năm về trước, Phật giáo đã được người ta hiểu như là một nền nghệ thuật hóa giáo học, vì vậy, ở các tự viện, niệm Phật đường hay tịnh xá thường thấy có thờ hình ảnh, tượng của Phật và Bồ Tát. Màu sắc và hình tượng lại rất nhiều, điều này chúng ta tham khảo trong Kinh điển như Kinh Vạn Phật chẳng hạn. Tại Đài Loan, trong những năm qua, có không ít đạo tràng lạy Kinh Vạn Phật. Trong bộ Kinh này, Phật nói có hơn một nghìn hai trăm vị Phật mà không có Bồ Tát. Phật dạy có rất nhiều chư Phật, mà mỗi một chúng ta có đầy đủ tự tánh năng đức. Lấy một ví dụ cho mọi người dễ hiểu, danh hiệu Thích Ca Mâu Ni là tiếng Phạn. Thích Ca dịch là từ bi, năng nhẫn; Mâu Ni dịch là tịch diệt hay thanh tịnh. Do đó có biết, từ bi và thanh tịnh trong tự tánh của mỗi chúng ta đều có đủ. Chúng ta nghe một danh hiệu Phật, nhất định trong ta phải tiếp nhận, và phải lấy tâm từ bi, tâm thanh tịnh mà đối đãi với người. Đó là ý nghĩa của Thích Ca Mâu Ni. Cho nên, hễ nghe danh hiệu hoặc thấy hình tượng của Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta phải phát khởi niệm tưởng như vậy, để nhắc nhở chính mình trong từng giây từng phút, không hướng ngoài những ý nghĩ đó. Danh hiệu của Bồ Tát là tu đức, chúng ta có đầy đủ năng đức của Phật và Bồ Tát, chỉ vì hiện tại chúng ta si mê nên tánh đức trong tự tánh chúng ta không hiện tiền. Như chúng ta vốn là từ bi, là đại từ đại bi, song hiện tại chúng ta đối xử với người, đối xử với vật không có một chút từ bi. Tự tánh của chúng ta vốn thanh tịnh, song mỗi ngày từ sáng đến chiều chúng ta đều vọng tưởng, vọng niệm, phiền não, những điều đó đều do chúng ta si mê. Như vậy, làm thế nào để khôi phục lại những đức tánh đó? Nhất định phải nhờ tu hành. Hình tượng, danh hiệu Phật và Bồ Tát làm khơi dậy đức hạnh tu hành trong mỗi chúng ta, mục đích là như vậy. Là đệ tử Phật, chúng ta cúng dường Phật và Bồ Tát cũng không ngoài những mục đích trên. Thứ nhất có ý nghĩa tưởng niệm, vì đức Phật là bậc thầy cao cả của chúng ta, chúng ta mang ơn giáo dục của Ngài, đạt được nhiều lợi ích và công đức thù thắng, vì thế chúng ta niệm niệm không quên công ơn đó. Thứ hai là noi theo gương của các Ngài mà học tập, cho nên mới nói: “Thấy người hiền, nghĩ mình làm sao cho bằng họ”. Chúng ta thấy hình tượng Phật và Bồ tát, chúng ta học tập theo gương hạnh các vị ấy, nghe danh hiệu các vị ấy chúng ta cũng muốn học theo đức hạnh. Đó là phương pháp chúng ta dụng tâm thờ cúng Phật và Bồ tát, là ý nghĩa chân chính mà chúng ta cần phải hiểu, vì vậy việc thờ cúng mới không mê tín.

Chư Phật, Bồ Tát có rất nhiều. Ví dụ chúng ta thờ cúng Bồ tát Địa Tạng, Bồ tát là đại biểu cho hiếu kính, hiếu thuận tôn sư. Địa là "tâm địa", Tạng là "bảo tạng". Mỗi một chúng sinh chúng ta tâm địa đều có đầy đủ vô lượng trí, đó là ý nghĩa của Địa Tạng. Cho nên, việc thờ cúng hình tượng Phật và Bồ Tát có công dụng nhằm làm khai phát tâm địa bảo tạng của chúng ta. Dùng phương pháp gì để khai phát? Dùng giáo dục, giáo học, mà giáo học là căn bản là hiếu thuận tôn sư. Vì vậy, Kinh Địa Tạng là Kinh hiếu nhập môn. Học Phật là từ nơi Kinh này bắt đầu vào. Thờ cúng Địa Tạng chẳng phải hàng ngày chúng ta lạy Ngài, hàng ngày cúng dường Ngài, cầu Ngài phù hộ cho chúng ta, nghĩ vậy chúng ta đã mê tín mất, tánh đức của chúng ta vĩnh viễn sẽ không hiển hiện được. Nên có thái độ thờ cúng như thế nào? Đó là học tập theo hạnh Ngài, điều này trong Kinh Địa Tạng lý luận giảng nói rất rõ ràng triệt để. Cần y theo phương pháp thiết thực đó mà làm thì Bồ Tát tất sẽ gia hộ cho chúng ta. Nếu không hiểu điều này, không y theo đó mà phụng hành, chẳng những chúng ta không đạt được chút lợi ích nào mà còn vướng phải sai lầm nữa. Sai lầm ở đâu? Ở chỗ đem Phật, Bồ Tát xem như thần linh, rồi đút lót, nịnh hót các vị ấy, đặt điều kiện để các vị ấy bảo hộ cho mình. Đem Phật, Bồ Tát để làm việc tham quan ô trược, thái độ đó là một trọng tội, nên từ chỗ không hiểu mới đi đến sai lầm. Vì thế, có câu: “Sai một ly đi một dặm” là vậy. Cho đến những việc như lạy thiên thần, phải làm sao? Thiên địa, quỷ thần trong cổ lễ Trung Quốc đều có. Làm thế nào có thể phát huy được đức tánh của chúng ta khi mà chúng ta chỉ cung kính thiên địa, quỷ thần! Chúng ta dùng tâm cung kính của mình đối với tất cả mọi người, tất cả việc, tất cả vật, đó là ý nghĩa cấm kỵ của thời xưa, vì nó thuộc vào giáo học. Tuyệt đối không được cầu quỷ thần, nếu cầu vào quỷ thần là quan niệm sai lầm, đó là điều mà chúng ta nhất định nhận thức cho rõ.

NIỆM PHẬT LÀ ĐỂ THOÁT SANH TỬ, KHÔNG PHẢI ĐỂ CẦU PHÁT TÀI...!

...Tại Việt Nam, trong hàng tăng, tín, chẳng những có nhiều người tu theo pháp môn Niệm Phật, mà một vài giáo phái tuy không phải đạo Phật, nhưng họ cũng niệm hồng danh đức giáo chủ ở Tây Phương. Song xét ra, số người niệm Phật tuy nhiều mà kẻ không rõ mục đích của sự trì niệm cũng chẳng ít. Vì vậy sự niệm Phật của họ không hợp với bản ý của đức Thế Tôn. Thử kiểm điểm lại, ta sẽ thấy:

  • Có những vị đi chùa thấy người niệm Phật cũng bắt chước niệm theo, hoàn toàn không chủ định. Hành động này tuy cũng gieo căn lành phước đức về sau, nhưng không hợp với bản ý của Phật.

  • Có những vị niệm Phật nguyện cho tiêu tai khỏi nạn, cầu gia đình khỏe mạnh bình yên, việc sinh hoạt càng ngày thêm thịnh vượng. Nguyện cầu như thế cũng tốt, nhưng không hợp với bản ý của Phật.

  • Có những vị đời sống gặp nhiều cảnh không vừa ý, sanh nỗi u buồn phẫn chí, niệm Phật cầu cho mình hiện tại và kiếp sau không còn gặp cảnh ấy nữa, sẽ được xinh đẹp vinh hoa, mọi việc đều thuận lợi như ý. Cầu như thế cố nhiên vẫn tốt, nhưng không hợp với bản ý của Phật.

  • Có những vị cảm thấy cuộc sống trần gian không điều chi hứng thú, cho sang giàu quyền thế cũng còn nhiều lo lắng khổ tâm. Họ hy vọng dùng công đức niệm Phật để kiếp sau được sanh lên cõi trời, sống lâu nhàn vui tự tại. Cầu như thế cũng là điều tốt, nhưng không hợp với bản ý của Phật.

  • Lại có những vị nghĩ mình tội chướng đã nhiều, trong một kiếp này dễ gì giải thoát, nên niệm Phật cầu cho kiếp sau chuyển nữ thành nam, xuất gia tu hành, làm bậc cao tăng ngộ đạo. Cầu như thế có thể gọi là xuất cách, nhưng còn thiếu trí huệ và đức tin, cũng không hợp với bản ý của Phật.

  • Vậy niệm Phật thế nào mới hợp với bản ý của Phật?

    Đức Thế Tôn thấy rõ pháp hữu vi đều vô thường, tất cả chúng sanh vẫn sẵn đủ đức tướng trí huệ của Như Lai. Nhưng do bởi mê bản tâm, nên tạo ra nghiệp hoặc, mãi chịu sống chết luân hồi, dù cho được sanh lên cõi trời, khi hưởng hết phước rồi, cũng bị sa đọa. Vì thế, bản ý của đức Thế Tôn muốn cho chúng sanh do nơi pháp môn Niệm Phật, sớm thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi!

    Chư Phật trong nhiều a tăng kỳ kiếp đã từng huân tu phước huệ, nếu kẻ nào xưng niệm hồng danh của Như Lai, sẽ được vô lượng vô biên công đức. Lại, đức A Di Đà Thế Tôn đã lập thệ: “Nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu của Ngài cầu về Cực Lạc, kẻ ấy khi mạng chung sẽ được tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương, chứng lên ngôi Bất Thối chuyển”.

    Đem công đức vô lượng của sự Niệm Phật, mong cầu những phước lợi nhỏ nhen ở cõi người, cõi trời mà không cầu vãng sanh giải thoát, có khác chi trẻ thơ đem hạt châu ma ni vô giá đổi lấy viên kẹo để ăn? Như thế thật là phí uổng không xứng đáng chút nào!

    Lại nguyện lực của Phật rất lớn, người nào nghiệp chướng dù nặng mà chí tâm niệm Phật, ngay một đời này cũng được tiếp dẫn vãng sanh. Cầu đời sau làm cao tăng ngộ đạo, là thiếu trí huệ và đức tin, làm sao bảo đảm bằng hiện đời sanh về Tây Phương, thành bậc Bồ Tát ở ngôi Bất Thối Chuyển?

    Cho nên, bản ý của đức Thế Tôn là muốn cho chúng sanh niệm Phật để thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, và sự giải thoát ấy lại có thể thực hiện ngay trong một kiếp.

    Nhưng tại sao chúng ta cần phải thoát vòng sống chết luân hồi?

    Đó là vì ở trong nẻo luân hồi chúng ta xác thật đã chịu nhiều nỗi thống khổ lớn lao.

    Nếu người học Phật mà không để tâm như thật quán sát nỗi thống khổ ấy, thì dù học Phật cũng không được kết quả tốt, bởi không có tâm lo sợ cầu thoát ly!

    Kinh nói: “Nếu tâm lo sợ khó sanh, tất lòng thành khó phát”.

    THẬT SỰ SỐNG TRONG BÌNH AN!

    Khi trong thuận cảnh thiện duyên, phải biết rằng đang tiêu thiện nghiệp của chúng ta, cho nên không được sanh tâm niệm tham ái và si mê, mà phải bảo trì [tâm] Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác.

    Trong nghịch cảnh ác duyên, phải biết là đang tiêu ác nghiệp của mình, cho nên không được sanh tâm sân, vẫn phải bảo trì [tâm] Thanh Tịnh, Bình Đẳng, [Giác].

    Trong tất cả cảnh giới, đều không quên tự mình đề cao Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác; như vậy mới tương ưng với Phật Bồ Tát, như vậy mới thật đúng là Bình An.

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT



    Đời người ngắn ngủi như một giấc mơ! Sanh, lão, bệnh, tử, ai rồi cũng phải trải qua. Chết đi không đem theo được gì, ngoài nghiệp đã gây tạo, để rồi phải chịu muôn vàn thống khổ. Chúng ta không phải đã phải chịu biết bao nhiêu sự khổ, như vậy còn chẳng đủ nữa sao?! Sao không buông xuống, tu sửa tánh hư tật xấu của chính mình, lại một lòng tin tưởng pháp môn Niệm Phật, chuyên niệm hồng danh “A Di Đà Phật”, nguyện sanh về Cực Lạc, thì vĩnh viễn thoát ly sanh tử luân hồi!

    Mong thay!

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!  

    Gia đình Diệu Âm cư sĩ
    Melbourne - Úc Châu

     

    Xin kính tặng quý bạn bài thơ tuyệt tác
    của sơ Tổ Tịnh Độ tông Việt Nam - Cố Hoà Thượng Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm

    Sân lan trời ngả bóng chiều.
    Cảm thân phù thế ít nhiều ngẩn ngơ!
    Tranh đời dệt mộng vẩn vơ.
    Say đua danh lợi, mê mờ sắc thanh.
    Cánh bèo sóng vỗ bập bềnh.
    Tại ai hay cũng gây nên bởi mình?
    Bể trần là mấy phù sinh.
    Thị phi thương ghét trong tình quẩn quanh
    Mà trông chiếc lá lìa cành.
    Vinh hư cõi tạm trong vành đó thôi!
    Mà trông ngọn nước chảy trôi.
    Mênh mang sáu nẻo biết rồi về đâu?
    Kiếp người nào có bao lâu.
    Nắng mưa thôi cũng dãi dầu cỏ hoa!
    Lầu sương nhạt ánh trăng tà.
    Hoàng lương một giấc tỉnh ra ngỡ ngàng!
    Chi bằng về cõi Liên Bang.
    Sen khoe sắc ngọc, gió đàn pháp âm.
    Trời giải thoát, cảnh thậm thâm.
    An vui muôn kiếp tuyệt lầm lỗi xưa.
    Chỉ câu niệm Phật đừng thưa.
    Chỉ bền "Tin-Nguyện", tam thừa bước lên.
    Đài vàng sẵn đã ghi tên.
    Cơ duyên sẵn đợi một nền đạo tâm!





    Dùng Firefox hoặc Internet Explorer cho website này là tốt nhất.